Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp trồng người. Trong tư tưởng của Người, sự nghiệp “trồng người” là việc “đại sự quốc gia”, bởi vậy nhiều lần Người viết thư gửi ngành giáo dục để căn dặn, động viên thầy và trò nỗ lực rèn luyện góp phần đưa đất nước ta "sánh ngang cường quốc năm châu". Xin trân trọng giới thiệu Bức thư Bác Hồ gửi cho học sinh nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên (1945-1946) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bức thư Bác gửi cho ngành giáo dục năm 1968 - bức thư cuối cùng trước khi Bác mất.
Nội dung bức thư như sau:
Các em học sinh,
Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi đã tưởng tượng thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trường ở khắp các nơi.
Các em hết thảy đều vui vẻ vì sau mấy tháng giời nghỉ học, sau bao nhiêu cuộc chuyển biến khác thường, các em lại được gặp thầy gặp bạn.
Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.
Trước đây cha anh các em, và mới năm ngoái cả các em nữa, đã phải chịu nhận một nền học vấn nô lệ, nghĩa là nó chỉ đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp.
Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em.
Các em được hưởng sự may mắn đó là nhờ sự hy sinh của biết bao nhiêu đồng bào các em. Vậy các em nghĩ sao? Các em phải làm thế nào để đền bù lại công lao của người khác đã không tiếc thân và tiếc của để chiếm lại nền độc lập cho nước nhà.
Các em hãy nghe lời tôi, lời của một người anh lớn lúc nào cũng ân cần mong mỏi cho các em được giỏi giang.
Trong năm học tới đây, các em hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn.
Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu.
Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều.
Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.
Ðối riêng với các em lớn, tôi khuyên thêm một điều này: chúng ta đã đánh đuổi bọn thực dân, chúng ta đã giành được độc lập. Nhưng giặc Pháp còn lăm le quay lại. Chúng ỷ vào kẻ khác mạnh hơn mà gây sự với ta.
Tất nhiên chúng sẽ bị bại, vì tất cả quốc dân ta đoàn kết chặt chẽ và một lòng chiến đấu cho giang sơn Tổ quốc. Phải sẵn sàng mà chống quân giặc cướp nước, đấy là bổn phận của mỗi công dân.
Các em lớn chưa hẳn đến tuổi phải gánh công việc nặng nhọc ấy, nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước.
Tôi đã thành thực khuyên nhủ các em. Mong rằng những lời của tôi được các em luôn luôn ghi nhớ.
Ngày hôm nay, nhân buổi tựu trường của các em, tôi chỉ biết chúc các em một năm đầy vui vẻ và đầy kết quả tốt đẹp.
Chào các em thân yêu!
Nội dung bức thư như sau:
Các cô các chú và các cháu thân mến,
Nhân dịp đầu nǎm học thứ tư chống Mỹ, cứu nước, Bác thân ái gửi lời thǎm hỏi tất cả các cô, các chú và các cháu.
Trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, sự nghiệp giáo dục của chúng ta vẫn phát triển nhanh, mạnh hơn bao giờ hết.
Bác vui lòng biết rằng mặc dù hoàn cảnh khó khǎn, hiện nay miền Bắc nước ta đã có một vạn hai nghìn trường phổ thông, mỗi xã đều có trường cấp một, nhiều xã đã có trường cấp hai, các huyện đều có ít nhất một trường cấp 3.
Số người đi học đã hơn 6 triệu, trong đó có hơn 1 triệu cán bộ và công nông đang học bổ túc vǎn hoá. Số người vào học các trường đại học và trung học chuyên nghiệp tǎng gần gấp 3 lần so với trước chiến tranh chống Mỹ.
Hơn 30 trường đại học và 200 trường trung học chuyên nghiệp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành và các địa phương, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, tập trung cũng như tại chức.
Các trường đã có nhiều cố gắng trong việc thi đua dạy tốt và học tốt, bảo đảm an toàn cho thầy và trò, làm cho đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tiến bộ.
Mặc dù giặc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc ác liệt, chúng không những đã thất bại thảm hại trên mặt trận chính trị, quân sự, mà ta đã thắng chúng cả trên mặt trận giáo dục và đào tạo cán bộ.
Làm được như vậy là nhờ Đảng ta có đường lối đúng đắn, quân đội và nhân dân ta rất anh hùng; và cũng do các cô, các chú, các cháu trong các trường học đã cùng nhau vượt qua nhiều khó khǎn để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Nhân dịp này, Bác khen ngợi những cố gắng và thành tích mà các cô, các chú và các cháu đã đạt được.
Nhưng đế quốc Mỹ còn ngoan cố. Cách mạng nước ta còn phải khắc phục nhiều khó khǎn gian khổ để đạt thắng lợi hoàn toàn. Hiện nay, Đảng và nhân dân giao cho các cô, các chú, các cháu nhiệm vụ lớn hơn trước. Vì vậy, Bác nhắc các cô, các chú và các cháu mấy điều sau đây:
Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tǎng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đốí trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho, luôn luôn cố gắng cho xứng đáng với đồng bào miền Nam anh hùng.
Dù khó khǎn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng vǎn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật.
Các cô các chú, các cháu phải cùng nhau tổ chức và quản lý đời sống vật chất và tinh thần ở các trường học ngày một tốt hơn, tǎng cường bảo đảm sức khoẻ và an toàn.
Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang.
Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó.
Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp đảng và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chǎm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới.
Bác mong chờ những thành tích mới của các cô, các chú và các cháu.
Chào thân ái và quyết thắng!
***
Nguồn: Báo Nhân Dân
Bác Hồ kính yêu - Chủ tịnh Hồ Chí Minh vĩ đại - Người cha già kính yêu của toàn dân tộc!
Ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh ở vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Bản Tuyên ngôn độc Lập do Người khởi thảo, được Ban Thường vụ Trung ương Đảng đóng góp ý kiến và nhất trí thông qua.
Xin trân trọng đăng tải lại toàn văn bản Tuyên ngôn độc lập:
"Hỡi đồng bào cả nước,
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:
"Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.
Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."
Chủ tịnh Hồ Chí Minh vĩ đại - Người cha già kính yêu của toàn dân tộc!
Dân tộc nào cũng có một pho sách trang trọng nhấn mạnh về hiếu đạo. Ca dao Việt Nam có câu nói làm chạnh lòng mỗi người con hiếu thảo: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa; miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”. Thực vậy, hồi tưởng về phụ mẫu luôn luôn khiến chúng ta chạnh lòng, khiến chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động nhớ đến công ơn cao dày của cha mẹ, nhớ đến ân đức “cưu mang trứng nước những ngày còn thơ”.
Nhân mùa Vu lan, chúng ta đi vào những lời dạy của Đức Phật lưu trong Kinh tạng Pāli và tìm xem Ngài đã nói về hiếu hạnh và thể hiện hiếu hạnh như thế nào trong vai trò một bậc Giác ngộ. Chắc chắn có những bài học to lớn lưu xuất từ nghĩa cử hiếu hạnh và những lời dạy nhấn mạnh về hiếu đạo của một bậc Giác ngộ như Đức Phật. Một vài nơi trong Kinh tạng Pāli, Đức Phật thuật lại cuộc đời may mắn của Ngài từ lúc còn là thai nhi cho đến lúc trưởng thành, được thương yêu, nuôi dưỡng và chăm sóc tận tình chu đáo, để nói lên tình thương yêu to lớn của cha mẹ Ngài, đồng thời cũng là cách Ngài tưởng nhớ đến ân đức của cha mẹ mình.
Trong kinh Trung bộ, Ngài trang trọng kể lại cho Tôn giả Nanda:
“Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Nanda, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay”.
“Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Nanda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ”.
“Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Nanda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Đâu-suất”.
Một tài liệu khác lưu trong tuyển tập Anguttaranikāya ghi chép lời Đức Phật nói về quãng thời gian niên thiếu của Ngài, sống trong cung điện của vua cha, được phụ thân quan tâm nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo như thế nào:
“Này các Tỷ-kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, tối thắng nuôi dưỡng tế nhị, cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị. Này các Tỷ-kheo, trong nhà phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen xanh, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỷ-kheo, là không từ ksi đến. Bằng vải ksi là khăn của Ta, này các Tỷ-kheo. Bằng vải ksi là áo cánh, bằng vải ksi là nội y, bằng vải ksi là thượng y. Đêm và ngày, một lọng trắng được che cho Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỷ-kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa”.
Tất cả kinh văn trên là lời Đức Phật nói về cuộc đời của Ngài từ lúc còn ở trong thai mẹ cho đến lúc trưởng thành, luôn luôn được sống trong tình yêu thương và sự chăm sóc tận tình của cha mẹ Ngài. Ngài kể sự kiện Ngài nhập vào thai mẹ, được bảo vệ và chăm sóc cẩn thận chu đáo ra sao trong thời gian mẹ Ngài mang thai, và sự kiện khi Ngài ra đời được hân hoan chào đón, chăm sóc và nâng niu như thế nào. Ngài cũng nói cho chúng ta biết Ngài đã được nuôi dưỡng tế nhị như thế nào trong lúc còn là vị thái tử sống trong cung điện của vua cha. Tất cả những lời phát biểu này một mặt nói lên phước đức vô lượng vô biên của Ngài do tích lũy trong nhiều đời kiếp mà nay Ngài được thừa hưởng như là kết quả. Nhưng mặt khác, những lời phát biểu của Ngài cũng gián tiếp cho thấy Ngài rất thương quý và rất nhớ ơn cha mẹ mình.
Đức Phật nói về cuộc đời may mắn của Ngài như là một cách Ngài tưởng nhớ đến ân đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình. Ân đức ấy thật to lớn. Càng to lớn hơn nữa khi mà cả phụ thân và mẫu thân của Ngài đều dồn hết tâm trí và tình thương yêu vào việc bảo vệ và chăm sóc chu đáo cho Ngài ngay trong lúc Ngài còn là thai nhi. Bằng chứng là cả phụ mẫu của Ngài đều một lòng một dạ tu nhân tích đức để vun trồng phước đức cho thai nhi và sửa soạn mọi duyên lành may mắn cho sự chào đời của Ngài. Tất cả kinh điển còn lưu lại đều nói rõ trước và trong thời gian mang thai Ngài, cha mẹ Ngài thường xuyên mở tâm bố thí, cúng dường, nỗ lực làm các việc lành và chuyên giữ tịnh giới để gieo nhân lành cho sự ra đời của Ngài.
Trong các mô tả của Ngài, Đức Phật nói cho chúng ta biết các ân đức to lớn Ngài nhận được từ cha mẹ Ngài. Ngài nhớ lại cảm giác được bảo vệ an ổn tuyệt đối khi ở trong thai mẹ. Cả mẹ Ngài và Ngài được bảo vệ cẩn thận, không bị bất cứ ai quấy rầy hay làm phiền nhiễu. Ân đức này thuộc về phụ thân của Ngài, là người ngày đêm lo canh giữ cho Ngài và mẹ Ngài được an toàn tuyệt đối trong thời gian mẹ Ngài mang thai Ngài.
Ngài cũng cảm nhận được sự mát mẻ thoải mái hay cảm giác thanh lương khi nằm trong thai mẹ, nhờ mẹ Ngài có giới hạnh thanh tịnh. Trong thời gian mang thai Ngài, mẹ Ngài tuyệt nhiên không sát sanh, không lấy của không cho, không tà tư tà hạnh, không nói dối, không uống rượu. Ân đức này thật hết sức cao quý và thiêng liêng, vì Ngài đã được nuôi dưỡng tế nhị bởi giới hạnh thanh tịnh và đức hiền lương của người mẹ. Người mẹ nào cũng thương con. Nhưng không phải người mẹ nào cũng biết thương con mình bằng cách giữ giới hạnh thanh tịnh. Giới đức thanh tịnh của người mẹ chính là một nguồn năng lượng nuôi dưỡng tâm tư trong sáng và khí chất hiền lành của con cái mình. Đức Phật ở trong thai mẹ đã thừa hưởng được phước đức lớn nhờ giới hạnh thanh tịnh của mẹ Ngài. Ngài được hấp thụ và được nuôi dưỡng bởi khí huyết thanh tịnh của bà mẹ. Ngài cũng được giáo dưỡng trong sáng và hiền hòa bởi đức thanh tịnh và hiền từ của mẹ Ngài ngay trong lúc còn ở trong bào thai.
Đức Phật cũng nhớ đến ân đức được chăm sóc chu đáo bởi cha mẹ mình. Ngài nói đến việc mẹ Ngài được thụ hưởng đầy đủ các tiện nghi vật chất, khiến thân thể bà khỏe mạnh, không tật bệnh, cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Ân đức này có được là nhờ phụ thân Ngài không ngừng lo lắng chăm sóc cho mẹ Ngài một đời sống sung túc với đầy đủ thức ăn bổ dưỡng. Mẹ Ngài mang thai Ngài được chăm sóc chu đáo, có sức khỏe tốt cũng đồng nghĩa là Ngài, thai nhi, được chăm sóc cẩn thận và chu đáo. Ngài ở trong thai mẹ cũng cảm nhận được sự khỏe khoắn thoải mái do thể trạng và sức khỏe tốt của bà mẹ.
Đức Phật cũng cảm nhận được tình thương yêu trìu mến của cha mẹ mình lúc còn nằm trong bào thai, qua công ơn chăm lo săn sóc chu đáo và qua niềm hân hoan của cha mẹ Ngài mỗi ngày ngắm nhìn Ngài dần lớn lên trong thai mẹ. Ngài được cha mẹ mình thương quý, ngày ngày vỗ về chuyện trò trong niềm hân hoan hỷ lạc mong Ngài sớm chào đời.
Ngài là người biết ơn và nhớ ơn rất lớn đối với cha mẹ mình. Xuất phát từ những cảm nhận tinh tế và cái nhìn minh triết của một bậc Giác ngộ, Đức Phật tán dương công đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình một cách hết sức trang trọng và đầy ý nghĩa. Ngài cho rằng Ngài được chăm sóc rất kỹ và thừa hưởng được nhiều tinh hoa phước đức to lớn từ cha mẹ mình.
Giây phút chào đời của Ngài được chờ đợi và được sửa soạn chu đáo bởi cả chư thiên và loài người. Ngài nói đến cảnh chư thiên và loài người thận trọng đỡ Ngài ra khỏi bụng mẹ với niềm hân hoan tột bậc gọi Ngài là bậc vĩ nhân. Ngài cảm nhận được sự tinh khiết sạch sẽ khi chào đời, một phần nhờ giới đức thanh tịnh của mẹ Ngài và một phần khác do sự chăm sóc kỹ lưỡng của những vị hộ sản. Ngài cũng cảm nhận được sự sảng khoái thoải mái lúc mới chào đời, nhờ được tắm rửa sạch sẽ và chăm sóc kỹ về hộ sinh và y tế. Nhìn chung, Đức Phật rất biết ơn và nhớ ơn nhiều người đã tận tâm tận lực lo lắng cho Ngài và mẹ Ngài được mẹ tròn con vuông một cách hết sức mỹ mãn.
Mẹ Ngài sinh Ngài được bảy ngày thì qua đời. Đức Phật lớn lên không có mẹ, nhưng bù lại Ngài được người dì ruột là bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề tận tâm nuôi nấng và được phụ thân Ngài là vua Tịnh Phạn hết lòng thương yêu, chăm lo cho mọi bề. Ngài thuật lại cảnh Ngài được nuôi dưỡng hết sức tế nhị trong cung thành, được vua cha quan tâm lo lắng cho mọi thứ bằng tình thương của người cha đức độ.
Ngài là người biết ơn và nhớ ơn rất lớn đối với cha mẹ mình. Xuất phát từ những cảm nhận tinh tế và cái nhìn minh triết của một bậc Giác ngộ, Đức Phật tán dương công đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình một cách hết sức trang trọng và đầy ý nghĩa.
Ngài cho rằng Ngài được chăm sóc rất kỹ và thừa hưởng được nhiều tinh hoa phước đức to lớn từ cha mẹ mình. Ngài được chăm lo bảo vệ chu đáo bởi phụ thân và được nuôi dưỡng tế nhị bởi tình thương và đức hạnh trong sáng, hiền thiện của bà mẹ.
Ngài cũng cảm nhận tâm lý không có mẹ từ thuở nhỏ, nhưng đáp lại Ngài được phụ thân hết lòng yêu quý, tận tâm nuôi dưỡng và chăm lo cho Ngài một cách hết sức mỹ mãn.
Những phát biểu trang trọng Đức Phật dành để nói về ân đức của cha mẹ mình gợi cho chúng ta nhiều ý tưởng sâu xa và bài học bổ ích về cuộc sống. Ngài nhấn mạnh công ơn của cha mẹ mà đồng thời cũng gợi mở một phương pháp tuyệt hay cho các bậc làm cha mẹ. Ngài không chỉ nhắc nhở những người làm con phải luôn luôn nghĩ nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn của cha mẹ, mà Ngài còn gián tiếp khuyên nhắc các bậc cha mẹ cần phải có tấm lòng nhân hậu và hiểu biết sáng suốt đối với con cái của mình trước khi chúng ra đời.
Ngài gợi ý cho chúng ta rằng, ngoài việc chăm lo săn sóc tốt cho bà mẹ trong thời gian mang thai, sự kiện các bậc cha mẹ biết tu nhân tích đức cho con bằng việc giữ giới thanh tịnh, tu tâm dưỡng tánh, làm các việc lành, sống với tâm hoan hỷ là tuyệt đối cần thiết cho thai nhi, giúp thai nhi hấp thụ và phát triển tốt về nhiều phương diện. Nói khác đi, những phát biểu của Đức Phật về công ơn cha mẹ mình là tuyệt đối cần thiết và hữu ích cho công tác nghiên cứu về chế độ và phương pháp chăm sóc bà mẹ và thai nhi.
Nói tóm lại, Đức Phật là một người con rất mực hiếu thảo. Ngài luôn luôn nhớ đến ân đức của cha mẹ. Ngài dùng những lời lẽ hết sức trang trọng để nói về công ơn của cha mẹ mình.
Truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ lưu nhiều truyền thuyết nói rằng vào năm thứ bảy sau ngày giác ngộ, Đức Phật lên tận cung trời Đâu-suất thuyết pháp cho mẹ mình và các chư thiên hiện hữu trong cảnh giới ấy. Tài liệu Luật tạng Pāli cho biết Ngài xuất gia tu hành và thành đạo xong thì quay về quê hương Kapilavatthu, hướng dẫn an trí phụ thân vào Thánh đạo, hóa độ cho nhiều thân bằng quyến thuộc đi theo Thánh pháp giải thoát. Tài liệu kinh Tăng chi bộ xác nhận Đức Phật đồng ý cho di mẫu Mahā Pajāpati Gotamī xuất gia thành lập giáo đoàn Ni giới sau những lời thỉnh cầu của Tôn giả Ānanda đi kèm với sự trình bày hợp lý về đức năng và công ơn dưỡng dục của di mẫu Gotamī khi Thế Tôn còn trẻ nhỏ.
Các truyền thuyết Thượng tọa bộ còn nói rằng khi vua Tịnh Phạn đau yếu sắp băng hà, Đức Phật đã hàng ngày tự tay chăm sóc cho phụ vương bên giường bệnh, tiếp tục khuyến giáo và sách tấn cho nhà vua an trú sâu vào Thánh pháp giải thoát, đạt được mục đích dứt sạch các phiền não lậu hoặc khi vừa mệnh chung. Ngài rời khỏi kinh thành Ca-tỳ-la-vệ sau khi đã tự thân lo hậu sự chu toàn cho phụ vương Suddhodana. Tất cả thông tin trên cho thấy tâm hiếu và hạnh hiếu của Đức Phật là cao cả, đầy tình người, xứng đáng là bài học muôn thuở cho mọi người chúng ta nỗ lực học tập và noi gương.
Đức Phật chứng nghiệm công ơn cao dày và hết sức thiêng liêng của các bậc cha mẹ đối với con cái như vậy nên Ngài hiểu thế nào là cách báo hiếu báo ân cha mẹ đúng đắn nhất. Trước hết, Ngài xem hiếu đạo là hạnh phúc của gia đình, sự hiếu kính cha mẹ là nền tảng của đạo đức và hạnh phúc hướng thượng, đáng được tôn thờ và ứng dụng trong mỗi gia đình. Ngài nhấn mạnh hiếu hạnh có giá trị lớn, đặt cha mẹ ngang hàng với tín ngưỡng Phạm thiên, ngang hàng với các đạo sư cổ xưa, để khuyên nhắc con cái cần phải hết mực tôn thờ và cung kính cúng dường. Bậc Giác ngộ tuyên bố:
“Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các đạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.
Phạm thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các đạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Đáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời”.
Với trí tuệ của bậc Giác ngộ, Đức Phật cho rằng ân đức cha mẹ là vô lượng vô biên mà con cái khó lòng đền đáp được, trừ phi người con khéo thực hành đạo lý giác ngộ và giúp cho cha mẹ thấu hiểu và thực hành đạo lý giác ngộ. Ngài nhấn mạnh:
“Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm cho đến 100 tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với mẹ cha không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha”.
Lời dạy của Đức Phật nói cho ta biết rằng công ơn của cha mẹ là thâm sâu, vô cùng vô tận, mà ta có cung kính phụng dưỡng thế nào cũng không thể đền đáp được. Phụng dưỡng hết lòng, săn sóc vật chất đầy đủ cho cha mẹ là điều tốt, đáng làm, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để đáp đền thâm ân của cha mẹ. Vì vậy, song song với lòng hiếu thảo phụng dưỡng, con cái cần phải học tập đạo lý giác ngộ để giúp cho cha mẹ khởi tâm tu tập mà sớm được giác ngộ. Nghĩa là, ngoài việc chăm lo cung phụng đời sống vật chất đầy đủ cho cha mẹ, người Phật tử phải sống đời sống đạo đức chánh kiến và khuyến khích cha mẹ thực hành nếp sống đạo đức chánh kiến. Có như vậy thì việc báo hiếu báo ân mới trọn đủ, mới đưa đến kết quả tốt lành cho mình và cho cha mẹ mình.
Nói cách khác, chăm lo phụng dưỡng vật chất đầy đủ cho cha mẹ chỉ giúp cho cha mẹ có được hạnh phúc hiện tại nhưng không bảo đảm hạnh phúc tương lai. Vừa chăm lo đời sống vật chất đầy đủ cho cha mẹ vừa khuyến khích, tạo điều kiện cho cha mẹ thực hành đạo lý giác ngộ mới khiến cho cha mẹ vui hưởng hạnh phúc vững bền, hạnh phúc đời này và an lạc đời sau, nhờ công đức phước báo mà cha mẹ tích tập được trong khi thực hành đạo lý giác ngộ.
Chúng ta may mắn được Đức Phật thương tưởng chỉ bày cho cách thức báo hiếu báo ân cha mẹ hết sức thiết thực và đầy ý nghĩa. Ngài dạy chúng ta phải hết lòng chăm lo săn sóc cho cha mẹ một cách đầy đủ từ vật chất cho đến tinh thần. Đặc biệt Ngài nhấn mạnh đến nếp sống tu tập đạo lý giác ngộ và khuyến khích cha mẹ thực hành đạo lý giác ngộ như là một phương pháp báo hiếu báo ân sáng suốt, giúp cho cha mẹ có được hạnh phúc hướng thượng, lần lượt đi đến giác ngộ, đi đến an vui giải thoát.
Nhân ngày Vu lan-Báo hiếu, mỗi người con Phật hãy nhớ đến tấm gương hiếu thảo của Đức Phật và hãy lắng tâm ghi nhớ những lời Đức Phật dạy về công ơn dưỡng dục của cha mẹ để hiểu hơn nữa, khắc sâu hơn nữa ân đức trời biển của cha mẹ và để nỗ lực hơn nữa trong nếp sống báo hiếu báo ân, sao cho cha mẹ mình được hạnh phúc và an lạc lâu dài trong hướng đi của đạo giác ngộ, đúng như lời Đức Phật đã dạy.
----------------------
1 Kinh Đất, Tăng chi bộ.
2 Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp, Trung bộ.
3 Kinh Được nuôi dưỡng tế nhị, Tăng chi bộ.
4 Kinh Mahā Pajàpati Gotamī, Tăng chi bộ.
5 Kinh Ngang bằng với Phạm thiên, Tăng chi bộ.
6 Kinh Đất, Tăng chi bộ.
*Tỷ-kheo Thích Minh Châu
Nguồn: Báo Giác Ngộ
*Tác giả: Cố Hòa thượng Tỷ-kheo Thích Minh Châu (1918–2012) là một bậc cao tăng lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại, nổi tiếng với công trình dịch thuật vĩ đại các bộ kinh điển Nikāya từ tiếng Pali sang tiếng Việt.